Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2020

Thị trường bất động sản sẽ bắt đầu hồi phục từ cuối năm 2020


Theo Báo cáo đánh giá giữa năm về Triển Vọng Thị Trường Bất động sản khu vực Châu Á – TBD của CBRE, hầu hết các mảng thị trường bất động sản sẽ bắt đầu hồi phục từ cuối năm 2020 đến cuối năm 2021. Tuy nhiên, tốc độ hồi phục của thị trường bất động sản (BĐS) thương mại sẽ chậm hơn nền kinh tế nói chung nhà tân phú.




Mặc dù tình trạng giãn cách xã hội cùng với những hạn chế trong việc đi lại đã được nới lỏng tại hầu hết các khu vực ở Châu Á-TBD, mức độ hồi phục của các hoạt động kinh tế và thị trường bất động sản nhìn chung không đồng đều tại các nước nhà tân phú
Theo như Chỉ số đo lường mức độ phục hồi của các nước do CBRE đánh giá dựa trên hoạt động kinh tế, vận tải, hoạt động mua sắm, giải trí, du lịch, làm việc; New Zealand, Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đang dẫn đầu.
CBRE dự kiến thị trường Công nghiệp & Kho vận sẽ phục hồi nhanh chóng khỏi sự suy thoái kinh tế do dịch bệnh gây ra. Yếu tố kích cầu sẽ đến từ sự phát triển của mảng thương mại điện tử nhà tân phú.
CBRE đánh giá, các mảng thị trường bất động sản khác sẽ cần nhiều thời gian hơn để thích nghi với xu hướng phát triển mới, bao gồm: Các mặt bằng và toà nhà văn phòng sẽ cơ cấu lại để tăng tính linh hoạt trong việc đáp ứng các nhu cầu thuê đa dạng từ khách thuê; các khách sạn đang chờ sự quay lại của nhóm khách du lịch theo đoàn; và mảng bán lẻ sẽ phải thích nghi với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, những cửa hàng mua sắm truyền thống sẽ có ít khách lui tới hơn, nhưng lượng chi tiêu của khách cho một lần mua sắm sẽ cao hơn trước đây.
Theo Báo cáo đánh giá giữa năm về Triển Vọng Thị Trường Bất động sản khu vực Châu Á – TBD trong năm 2020 của CBRE, các công ty công nghệ vẫn sẽ tiếp tục dẫn dắt nguồn cầu thị trường văn phòng khu vực Châu Á – TBD. Số lượng yêu cầu thuê tăng lên từ ngành dược phẩm, cùng với sự hồi phục của thị trường Trung Quốc góp phần tạo nên một viễn cảnh khả quan hơn trong thời gian tới. 
Đối với mảng công nghiệp & kho vận, nhu cầu thuê vẫn sôi động do các công ty thương mại điện tử phát triển với tốc độ phi mã. Mảng bán lẻ và khách sạn sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn tuy vẫn có nhiều tiềm năng phục hồi.
Về thị trường đầu tư, nhà đầu tư tổ chức trong khu vực đang tìm kiếm cơ hội trong lãnh vực kho vận thông qua liên doanh hoặc/và đầu tư vốn nhà tân phú. Một số nhà đầu tư tổ chức nước ngoài đang có chiến lược đầu tư vào các tài sản văn phòng tại vị trí đắc địa của các thành phố cửa ngõ của Nhật Bản, Trung Quốc và Singapore.
Bà Đặng Phương Hằng, Tổng giám đốc CBRE Việt Nam, cho biết, "Đại dịch này đã để lại ảnh hưởng nặng nề cho nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, khu vực Châu Á – TBD được tin rằng sẽ bắt đầu hồi phục từ cuối năm nay cho đến hết năm 2021."
Bà Hằng cũng cho biết thêm, "Trong khủng hoảng kinh tế lần này, lãi suất sẽ được giữ ở mức thấp nhất nhằm giúp kích cầu cho thị trường bất động sản thương mại khu vực Châu Á – TBD trong bối cảnh chênh lệch giữa tỷ suất đầu tư vào bất động sản và trái phiếu chính phủ ngày càng lớn. Các nhà đầu tư vẫn rất quan tâm vào bất động sản thương mại mặc cho lệnh hạn chế di chuyển và họ cũng đang tiếp cận các cơ hội đầu tư khác như các khoản nợ, tài sản có doanh thu ổn định và đất phát triển công nghiệp & kho vận."
Báo cáo đánh giá về Triển Vọng Thị Trường Bất động sản khu vực Châu Á – TBD được CBRE phát hành vào đầu năm nay đã chỉ ra các xu hướng chính ảnh hưởng đến thị trường bất động sản thương mại như xu hướng đi ngược toàn cầu hóa, giảm phát, và thay đổi về nhân khẩu học. Trong báo cáo cập nhật giữa năm, CBRE vẫn giữ vững quan điểm về các xu hướng này và cập nhật thêm tình hình cũng như ảnh hưởng từ đại dịch đến các xu hướng trên.

Thời đại dịch, có tiền nên đầu tư vào đâu?



Dù liên tiếp chịu ảnh hưởng bởi những tác động của dịch Covid-19, song so với các kênh đầu tư khác như vàng hay chứng khoán thì bất động sản hiện vẫn được xem là kênh đầu tư an toàn, có khả năng sinh lời hiệu quả cả trung và dài hạn nhà tân phú.




Đầu tư bất động sản lên ngôi
Sau khoảng 6 tháng dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các nhà đầu tư dù ở lĩnh vực nào cũng đều phải bước vào giai đoạn rủi ro khá cao nhà tân phú. Vì vậy, việc xác định hướng đi để bảo vệ dòng tiền đặc biệt quan trọng trong giai đoạn này, nhất là đối với những nhà đầu tư có biên lợi nhuận mỏng.
Theo phân tích của nhiều chuyên gia, với diễn biến thị trường bất ổn như vậy, so với các kênh đầu tư khác vốn từng rất hấp dẫn như vàng, chứng khoán hay ngoại tệ thì đầu tư vào nhóm bất động sản (BĐS) được đánh giá là đem lại hiệu quả cao và có tính an toàn hơn nhà tân phú.
Điều này từng được chứng minh trong cuộc khủng hoảng nhà đất năm 2008 – 2011. Thời điểm đó, thị trường đóng băng, giá BĐS giảm tùy vào khu vực nhưng nơi giảm ít nhất cũng 30-60%, giúp nhà đầu tư có cơ hội lựa chọn được sản phẩm tốt với giá vô cùng hợp lý. Sau đó, thị trường khởi sắc mạnh mẽ trong khoảng 2013-2015 đã mang lại số lợi nhuận không nhỏ cho các nhà đầu tư đó.
Chính vì vậy, dù hiện nay dịch Covid-19 ảnh hưởng đến nhiều ngành kinh tế, nhưng xét ở một phương diện nào đó thì đây lại cơ hội cho những người có tầm nhìn. 
Theo một lãnh đạo doanh nghiệp, diễn biến của thị trường hiện nay cho thấy các dòng sản phẩm BĐS, đặc biệt là ở phân khúc đất nền, biệt thự hay shophouse có pháp lý hoàn thiện đã xác lập một mặt bằng giá mới và khó có thể giảm, nhất là khi nguồn cung hạn chế. Chưa kể, phân khúc này còn được coi là "của để dành" theo văn hóa người Việt, bởi vậy sẽ luôn tạo hấp lực lớn với thị trường ở mọi thời điểm.
Cơ hội cho các nhà đầu tư biết nắm bắt thị trường
Tuy nhiên, để có thể lọt vào "mắt xanh" của những nhà đầu tư "nhìn xa trông rộng", đó phải là dự án không chỉ có thiết kế đẹp, độc, mới lạ, mà còn phải sở hữu vị trí tiềm năng. Vài năm trở lại đây, BĐS tại các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là thị trường gần Hà Nội như Hòa Bình trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư nhà tân phú.
Theo báo cáo thị trường quý III/2019 của website Batdongsan.com.vn, Hoà Bình là tỉnh mà lượng truy cập tìm kiếm BĐS cao nhất trong số các tỉnh phía Bắc với lượng tìm kiếm tăng 73%.  Xét về giá, so với một số thị trường tại khu vực phía Bắc như Hải Phòng, Bắc Ninh, Hải Dương, thì đất nền Hòa Bình đang có giá thấp hơn cả.
Trong khi đó, Hòa Bình lại có lợi thế về hạ tầng giao thông. Tuyến đường nối Đại lộ Thăng Long với thành phố Hòa Bình đã rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội đến Hòa Bình xuống chỉ còn chưa đầy 1 tiếng, giúp các nhà đầu tư dễ dàng hơn trong việc quản lý.
Ngoài ra, dưới tác động của dịch Covid-19, thay vì những nơi sầm uất, náo nhiệt, khách hàng đang có xu hướng lựa chọn những không gian nghỉ ngơi riêng tư, yên bình. Cùng với đó, dự án phải có pháp lý rõ ràng thì mới có thể đảm bảo sự an toàn về dòng tiền, trở thành tài sản tích lũy bền lâu.
Trên thực tế, có không ít dự án đang triển khai trong thời điểm này nhưng để đáp ứng được các yếu tố trên là điều không hề dễ dàng. Đó chính là lý do tại sao gần đây, khi thông tin dự án Legacy Hill Hòa Bình chuẩn bị ra mắt phân khu mới, phân khu đẳng cấp Elite Riverside đã ngay lập tức nhận được sự quan tâm lớn của nhà đầu tư.

Elite Riverside - phân khu đẳng cấp nhất dự án Legacy Hill Hòa Bình dự kiến sẽ ra mắt trong thời gian tới.
Lý giải về nguyên nhân này, một môi giới lâu năm tiết lộ đây là số ít dự án đáp ứng được các yếu tố về cả vị trí gần Thủ đô, lối thiết kế độc đáo, cảnh quan xanh mát, không gian sống riêng tư, đẳng cấp. Ngay từ khâu ý tưởng quy hoạch dự án, chủ đầu tư An Thịnh Group đã chú trọng phát triển đồng bộ hệ thống tiện ích. Đặc biệt, dự án có pháp lý rõ ràng khi những căn biệt thự, shophouse đều có sổ đỏ lâu dài.
Theo các chuyên gia, với cú hích từ thị trường thời hậu Covid-19, việc các chủ đầu tư như An Thịnh Group chuyển hướng để tung ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của khách hàng là động thái tích cực góp phần đưa BĐS tiếp tục là kênh đầu tư an toàn trong bối cảnh nền kinh tế nhiều biến động như hiện nay.

Thị trường hiện nay khác thời 2011, bất động sản không gặp khủng hoảng



Thị trường BĐS đang rơi vào tình trạng chậm lại, sụt giảm về nguồn cung dấy lên những lo ngại về cuộc khủng hoảng BĐS như cách đây gần 10 năm. Tuy nhiên, một số chuyên gia đã có những phân tích, cho rằng BĐS không gặp khủng hoảng như thời 2011 nhà tân phú.




Nhìn lại cuộc khủng hoảng BĐS năm 2011-2013 được nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân chính là do khủng hoảng tín dụng tác động đến trong bối cảnh thị trường khi đó phần lớn "sốt nóng" do đầu cơ đất đai. Có tới 2/3 nhu cầu thị trường là đầu cơ nên khi tín dụng bị siết chặt đột ngột dẫn đến làn sóng bán tháo tài sản diễn ra, bong bóng bất động sản đổ vỡ nhà tân phú.
Khi đó, nhà đất sụt giá mạnh, ước tính 30-40% chỉ trong thời gian ngắn. Tồn kho BĐS năm 2012 lên tới trên 100.000 tỉ đồng. Nợ xấu của nhiều doanh nghiệp BĐS tăng vọt. Lạm phát thực sự bùng nổ khiến Ngân hàng Nhà nước phải thắt chặt các chính sách tiền tệ. Kể từ năm 2012, cơ quan quản lý nhà nước đã nỗ lực ban hành nhiều chính sách và các gói kích cầu kinh tế nhằm thu hút đầu tư và tháo gỡ khó khăn cho thị trường. Kết quả là, thị trường bắt đầu có những chuyển biến tích cực nhà tân phú.
Việc khối doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp đầu tư phát triển các dự án Nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá rẻ được giảm nghĩa vụ tài chính cùng với gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng được đưa ra đã từng bước giúp thị trường BĐS Việt Nam dần phục hồi dù tồn kho BĐS vẫn còn nhiều và chưa được giải quyết hết.

Những dấu hiệu khó khăn kéo dài của thị trường BĐS thời gian gần đây có những nét tương đồng sự đóng băng về BĐS của gần 10 năm trước cũng dấy lên những lo ngại về một cuộc khủng hoảng BĐS có thể xảy ra vào năm 2011.
Chia sẻ tại hội thảo mới đây về thực trạng BĐS hiện nay, ông Nguyễn Văn Đính, Phó Tổng thư ký Hiệp hội BĐS Việt Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Môi giới BĐS Việt Nam khẳng định, khó khăn hiện nay của thị trường BĐS Việt Nam không phải đến từ nội tại mà đến từ các yếu tố khác nhà tân phú.
Vào những năm 2017-2018, thị trường BĐS Việt Nam phát triển rất mạnh. Sang năm 2019 có khựng lại đôi chút, các chỉ số của thị trường ngay lập tức giảm hơn 2018. Theo đó, năm 2017, có 130.000 sản phẩm được hấp thụ, đến năm 2018 vọt lên 180.000 sản phẩm nhưng đến năm 2019 còn 110 – 120.000 sản phẩm. Điều này cho thấy thị trường có sự sụt giảm nhưng xuất phát từ nguyên nhân là do tác động của tình hình vĩ mô.
Theo ông Đính, dù thị trường sụt giảm nhưng có những dự án được hấp thụ lên tới 90%. Cụ thể, tại Tp.HCM có những dự án giá bán lên tới 40 triệu đồng/m2 nhưng trong vòng hai ba tháng đã tiêu thụ tới 95%. Còn ở thời điểm 2011-2012 gần như thị trường đóng băng, phần lớn là người bán tài sản chứ không có người mua. Do đó, thị trường hiện nay không phải khủng hoảng bởi thị trường BĐS nhu cầu vẫn rất mạnh, rất lớn.
Chưa kể, thời gian qua, khi gặp các vướng mắc này, doanh nghiệp lên tiếng, Chính phủ đã có những hành động rất kịp thời, một loạt chính sách đã được đưa ra, như chính sách để tháo gỡ cho sự phát triển cho condotel. Đối với các dự án đang phát triển Chính phủ cũng đã có Nghị định 25.
Theo ông Đính,, lượng giao dịch đến nay chỉ được 10 nghìn giao dịch thành công, bằng khoảng 10% năm ngoái. Tuy nhiên, chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn, chỉ có hai tháng sau dịch lần 1 kết thúc thị trường đã khôi phục hoạt động. Như vậy, thị trường vẫn hoạt động tốt, mặc dù có ảnh hưởng của đợt dịch đầu năm.
"Theo tôi, BĐS không gặp khủng hoảng, mà đang bị yếu tố bên ngoài tác động vào làm thị trường bị chậm nhịp lại. Chúng ta tin tưởng Chính phủ, nhân dân Việt Nam chắc chắn sẽ thành công trong việc kiểm soát đợt dịch thứ hai này. Và khi dịch được kiểm soát, BĐS sẽ là một trong những lĩnh vực đầu tiên được khôi phục, bên cạnh đó là du lịch, trong đó có du lịch nghỉ dưỡng. Trong thời gian tới vẫn còn cửa sáng cho thị trường BĐS nên chúng ta vẫn nên lạc quan", ông Đính nhấn mạnh.
Cùng quan điểm, ông Neil MacGregor, Tổng giám đốc Savills Việt Nam cho hay, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, tác động y tế của dịch bệnh không nghiêm trọng như nhiều quốc gia khác, nhờ có các biện pháp đối phó chủ động ở cả các cấp trung ương và địa phương.
"Trong khi kinh tế vĩ mô và tài khóa ổn định với mức tăng trưởng GDP ước đạt 3,8% trong quý đầu năm 2020, tác động của cuộc khủng hoảng Covid-19 đang diễn ra là khó dự đoán, tùy thuộc vào quy mô và thời gian kéo dài của dịch bệnh", ông Neil chia sẻ.

Neil MacGregor, Tổng giám đốc Savills VIệt Nam
Số liệu mới nhất của World Bank cho thấy nền kinh tế, Việt Nam tiếp tục cho thấy nền tảng mạnh mẽ và khả năng chống chịu cao, nhờ nhu cầu trong nước và sản xuất định hướng xuất khẩu vẫn ở mức cao trong hai năm trở lại đây. Số liệu sơ bộ cho thấy GDP thực tăng khoảng 7% trong năm 2019, gần với tỉ lệ tăng trưởng năm 2018 và Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực. Do hội nhập kinh tế sâu rộng,
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng dự báo GDP Việt Nam đạt mức tăng trưởng 4,1% trong năm 2020. Mặc dù con số này thấp hơn 0,7% so với dự báo tháng 4 của ADB, song đây vẫn là mức tăng trưởng cao nhất được kỳ vọng tại Đông Nam Á. Ngân hàng Thế giới (WB) cũng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2020 đạt 3,0% và kỳ vọng nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi tương đối nhanh chóng và sẽ có tốc độ tăng trưởng 6,8% vào năm 2021.
Ông Neil MacGregor cho rằng, bản thân đã chứng kiến và trải qua tất cả những thăng trầm và phát triển của thị trường. Giữa giai đoạn khó khăn của nền kinh tế nói chung trong tâm dịch Covid-19, ông vẫn luôn có cái nhìn lạc quan và tin tưởng vào sự vực dậy của BĐS.
Thực tế 25 năm vừa qua đã chứng minh cho việc, ngay trong thời gian khủng hoảng kinh tế, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm số ít các nước duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao. Có thể khẳng định rằng bên cạnh đầu tư vàng, BĐS đã , đang và sẽ là một kênh đầu tư an toàn và hiệu quả nhất. Covid-19 sẽ còn kéo dài đến cuối năm 2020, nhưng thị trường BĐS sẽ sớm phục hồi và phát triển lớn mạnh trong giai đoạn tiếp theo 2021-2022, nhờ vào những quyết tâm rất lớn và kịp thời của Chính phủ trong thời gian gần đây.
Cũng chia sẻ tại hội thảo, Chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết khẳng định, Nhiều doanh nghiệp BĐS trong một hội thảo gần đây đã đưa ra quan điểm rằng Covid-19 chưa ảnh hưởng nhiều đến lĩnh vực này. Cho đến nay, chưa mấy doanh nghiệp nào kêu khó trong mảng BĐS. Cái đáng lo nhất theo tôi lại là các ngành dịch vụ, du lịch, vận tải, hàng không, đường biển...
"Với điều kiện khó khăn như vậy từ nay đến sang năm, vậy sản phẩm ra thị trường sẽ rất ít? Các bạn có thể tìm hiểu số lượng các dự án ra thị trường nay đến năm sau, không nhiều. Mặt khác, qua hai làn sóng dịch Covid, tôi vẫn chưa thấy dấu hiệu giảm giá hay bán phá giá nào cả. Bởi vậy, tôi tin rằng những năm tới, chắc chắn thị trường bất động sản còn rất nhiều lợi thế", ông Quyết nhấn mạnh.

Quy hoạch vùng TP.HCM mở rộng: Nhân tố chính cho đại đô thị phát triển


Năm 2018, Thủ tướng Chính phủ công bố bản điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Ngay sau khi quy hoạch được công bố, các tỉnh thành lân cận với TP.HCM lập tức xuất hiện những dự án đại đô thị lớn nhà tân phú.




Cơ hội từ một bản quy hoạch
Theo bản Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22/12/2017, phạm vi đã mở rộng không chỉ ở các tỉnh ven TP.HCM như Long An, Đồng Nai, Bình Dương, mà đã xuất hiện những tiểu vùng xa hơn là các tỉnh, thành phố cách TP.HCM hàng trăm km nhà tân phú.
Đơn cử, tại tiểu vùng phía Bắc - Tây Bắc TP.HCM, phạm vi mở rộng gồm tỉnh Bình Phước, Tây Ninh và một phần tỉnh Bình Dương. Trong đó, đô thị Chơn Thành - Đồng Xoài của tỉnh Bình Phước là cực tăng trưởng trên trục hành lang kinh tế dọc Quốc lộ 13. Đô thị Trảng Bàng - Gò Dầu - Hà Thành, tỉnh Tây Ninh là cực tăng trưởng trên trục hành lang phía Tây Bắc dọc Quốc lộ 22.
Quy hoạch nêu rõ, tỉnh Tây Ninh sẽ phát triển các chức năng về kinh tế cửa khẩu, kho vận, trung chuyển hàng hóa trên trục hành lang Xuyên Á. Ngoài ra, sẽ phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản, trồng cây công nghiệp; phát triển du lịch sinh thái rừng, du lịch văn hóa lịch sử tầm quốc gia, quốc tế, có vai trò quan trọng trong bảo vệ nguồn nước, bảo tồn cảnh quan rừng và đa dạng sinh học vùng TP.HCM. Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2030 khoảng 45 - 50% nhà tân phú.
Trong khi đó, tỉnh Bình Phước sẽ đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng phía Bắc vùng TP.HCM, kết nối với vùng Tây Nguyên, vùng sông Mê Kông mở rộng các nước ASEAN. Còn tỉnh Tiền Giang phát triển kinh tế về nông nghiệp chuyên canh trồng lúa, vườn cây ăn trái, thủy sản, du lịch sinh thái đặc trưng sông nước, là trung tâm kho vận về nông sản phía Tây Nam, trung tâm nghiên cứu công nghệ sinh học quốc gia, trung tâm dịch vụ, giáo dục, đào tọa, y tế của tiểu vùng.
Bà Phan Thị Mỹ Linh, Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho biết, đây là các đô thị thuộc tỉnh quanh nhà tân phú TP.HCM, các đô thị này cũng sẽ là các đô thị chuyên ngành, có vai trò tạo động lực trong vùng trên cơ sở tăng cường sự liên kết và khai thác hiệu quả hệ thống đường Vành đai 3,4. Cũng như các trục hành lang kinh tế giữa TP.HCM với các tỉnh như Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Tiền Giang, Bến Tre…
Nhiệm vụ của các tiểu vùng này là khai thác, chia sẻ̉ và liên kết các chức năng lợi thế riêng của từng đô thị, đặc biệt là các đô thị trung tâm của tiểu vùng nhằm phát huy thế mạnh của toàn vùng. Tập trung đầu tư nâng cao chất lượng đô thị, cấu trúc đô thị hài hòa với cảnh quan tự nhiên, ưu tiên hình thành các vùng không gian xanh nông, lâm nghiệp. Sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế phát triển theo mô hình đô thị lan tỏa. Hình thành hệ thống hạ tầng đô thị đồng bộ, hiện đại và các công trình hạ tầng cấp vùng.
Cũng theo bà Linh, các tiểu vùng này sẽ có nhiều lợi thế về đầu tư dự án giao thông kết nối. Trong đó, sẽ ưu tiên phát triển các dự án trọng điểm cấp quốc tế, quốc gia và vùng tại đô thị trung tâm nhằm tạo ra động lực chính phát triển lan tỏa các tiểu vùng khác trong vùng. Tập trung ưu tiên đầu tư các dự án có vai trò tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội các vùng và các tỉnh trong vùng theo lĩnh vực cụ thể.
Cơ hội cho dự án đại đô thị phát triển
Đánh giá về bản quy hoạch vùng TP.HCM mở rộng này, PGS.TS. Nguyễn Văn Hiệp, Nguyên Phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM cho rằng, đây sẽ là một lợi thế cho các tỉnh, thành phố lân cận TP.HCM đón sóng nhà đầu tư trong và ngoài nước tới phát triển mạnh các dự án bất động sản lớn, quy mô đại đô thị.
Theo ông Hiệp, từ trước tới nay, các tỉnh lân cận TP.HCM chưa được chú ý đầu tư xứng tầm về giao thông cũng như y tế, giáo dục và trung tâm thương mại, nhưng bản quy hoạch vùng điều chỉnh này đã tạo cho các tỉnh trên một vị thế mới, đó là kinh tế vùng và đầu tư những dự án giao thông cũng như giáo dục, y tế… bài bản. Tất cả sẽ tạo cho các địa phương một vị thế mới để hút nhà đầu tư vào phát triển, giảm tải cho TP.HCM trong việc phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thương mại.
Bên cạnh đó, về mô hình phát triển, vùng TP.HCM với mô hình tập trung - đa cực, đảm bảo sự thống nhất, cân bằng trong phát triển vùng và thích ứng với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Về cấu trúc không gian, vùng TP.HCM được phân ra thành các tiểu vùng và trục hành lang phát triển kinh tế. Cụ thể, các tiểu vùng gồm tiểu vùng đô thị trung tâm là TP.HCM và vùng phụ cận tại các tỉnh Long An, Bình Dương, Đồng Nai; tiểu vùng phía Đông gồm các tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu; tiểu vùng phía Bắc - Tây Bắc gồm các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh và phía Bắc tỉnh Bình Dương; tiểu vùng phía Tây Nam gồm các tỉnh Tiền Giang và Long An.
Các trục hành lang kinh tế trọng điểm cũng đã mở rộng theo trục hành lang phía Đông Nam dọc Quốc lộ 51 với chuỗi các đô thị Phú Mỹ, Bà Rịa, Vũng Tàu, trong đó, TP. Vũng Tàu và TP. Bà Rịa là cực tăng trưởng. Trục hành lang phía Đông dọc Quốc lộ 1 gồm chuỗi các đô thị Dầu Giây, Long Khánh, Gia Ray (Đồng Nai), trong đó đô thị Long Khánh là cực tăng trưởng.
Trục hành lang phía Bắc dọc Quốc lộ 13 gồm chuỗi các đô thị Bàu Bàng (Bình Dương), Chơn Thành, Bình Long, Hoa Lư - Lộc Ninh, Đồng Xoài (Bình Phước), trong đó đô thị Chơn Thành là cực tăng trưởng. Trục hành lang phía Tây Bắc dọc Quốc lộ 22, 22B gồm chuỗi các đô thị Trảng Bàng, Phước Đông - Bời Lời, Gò Dầu, Mộc Bài - Bến Cầu, Hòa Thành, Tây Ninh, Tân Biên, Xa Mát (Tây Ninh), trong đó các đô thị Trảng Bàng - Gò Dầu, TP. Tây Ninh là cực tăng trưởng. Trong khi đó, trục hành lang phía Tây Nam dọc Quốc lộ 1 gồm chuỗi các đô thị Bến Lức, Tân An (Long An), Mỹ Tho, Cai Lậy (Tiền Giang), trong đó TP. Tân An - TP. Mỹ Tho là cực tăng trưởng.
"Đồ án điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM lần này không chỉ đáp ứng mong muốn của TP.HCM, mà còn là sự kết nối chặt chẽ giữa các tỉnh, thành phố; đồng thời xác định được thế mạnh của từng địa phương, từng khu vực. Đặc biệt, vai trò trung tâm của TP.HCM để 8 địa phương trong vùng TP.HCM phát triển nhanh, bền vững", ông Hiệp nói.
Thực tế, từ năm 2019 tới nay, hàng loạt tỉnh thành lân cận TP.HCM đã đón sóng dự án đại đô thị phát triển. Đơn cử như Đồng Nai mới đây, dự án AquaCity của Tập đoàn bất động sản Novaland xây dựng tại TP. Biên Hòa với diện tích hơn 1.800ha gồm các sản phẩm nhà phố, biệt thự… với đầy đủ tiện ích như y tế, giáo dục, vui chơi giải trí. Tại Long An, Tập đoàn Trần Anh Group với dự án Phú An City với diện tích hơn 100ha với các sản phẩm chung cư cho người thu nhập thấp, nhà phố, biệt thư, bệnh viện dưỡng lão.
Tại Bình Phước, Tập đoàn Cát Tường Group cũng phát triển thành công dự án dự án Cát Tường Phú Hưng với diện tích 100ha, bao gồm các sản phẩm nhà phố, biệt thự… Các tập đoàn lớn như VinGroup, Hưng Thịnh Corp, Him Lam Land, Nam Group, FLC… cũng đã phát đi thông báo hoàn thành thủ tục đầu tư các dự án lớn tại Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Long An, Đồng Nai, Bình Phước… Các dự án này dự kiến bắt đầu phát triển vào năm 2021.

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2020

Trung Quốc tiếp tục giảm lãi suất cho vay cơ bản



Sau khi giảm lãi suất cho vay trung hạn xuống mức thấp lịch sử hôm 16/4, đến hôm nay 20/4 Trung Quốc tiếp tục giảm lãi suất cho vay cơ bản.



Trung Quốc đã cắt giảm lãi suất cho vay cơ bản như dự kiến bắt đầu từ hôm nay 20/4 để giảm chi phí vay cho các công ty và thúc đẩy nền kinh tế bị virus tấn công, sau khi dữ liệu tăng trưởng kinh tế lần đầu tiên sụt giảm mạnh sau nhiều thập kỷ thị trường chứng khoán.
Cụ thể, lãi suất cho vay cơ bản (LPR) kỳ hạn 1 năm đã giảm 20 điểm cơ bản xuống còn 3,85%/năm từ 4,05%/năm trước đó, trong khi LPR kỳ hạn 5 năm có mức cắt giảm khiêm tốn hơn với 10 điểm cơ bản từ 4,75%/năm xuống còn 4,65%/năm.
Động thái này là lần cắt giảm thứ hai đối với lãi suất cho vay trong năm nay và là mức giảm mới nhất đối với một trong những lãi suất cho vay quan trọng nhất của Trung Quốc. Hầu hết các khoản vay mới và dư nợ đều dựa trên LPR kỳ hạn 1 năm, trong khi lãi suất 5 năm ảnh hưởng trực tiếp đến việc định giá các khoản thế chấp của các nhà đầu tư.
Trước đó, tất cả chuyên gia trong một cuộc khảo sát của Reuters hôm 17/4 đều đã dự kiến Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) sẽ giảm lãi suất LPR trong đợt ấn định hàng tháng. Một số chuyên gia đã đặc biệt chú ý hơn đến LPR 5 năm để xem liệu Bắc Kinh có thể giảm bớt sự kiềm chế trong lĩnh vực bất động sản để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay không.
"Một sự sụt giảm nhỏ trong chi phí đi vay là không đáng kể đối với các công ty đang gặp khó khăn. Nhưng PBOC đã giảm bớt các điều kiện vay vốn thông qua một loạt các công cụ khác gần đây", Martin Rasmussen, Chuyên gia kinh tế Trung Quốc tại Capital Economics cho biết.
Việc cắt giảm lãi suất mới nhất này được giới chuyên gia đánh giá là một dấu hiệu khác cho thấy các nhà chức trách vẫn rất thận trọng đối với việc nới lỏng tiền tệ. Khi điều kiện việc làm vẫn còn yếu và việc xuất khẩu hàng hóa bị kìm hãm, nhiều dự đoán cho rằng PBOC sẽ thực hiện các bước tiếp theo để thúc đẩy kinh tế.
Dữ liệu được công bố hôm 17/4 cho thấy tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong quý đầu tiên đã sụt giảm mạnh, ở mức -6,8%, do việc đóng cửa các nhà máy và cửa hàng để ngăn chặn dịch bệnh lây lan. Đây là lần đầu tiên kinh tế Trung Quốc giảm sút như vậy, ít ra là kể từ năm 1992. Tỷ lệ tăng trưởng thậm chí còn bị sụt giảm mạnh hơn so với dự báo là - 6,5%. Trong quý 4 năm ngoái, tăng trưởng của nước này đạt 6%.
Trung Quốc cũng đang khởi động lại nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng có thể sẽ phải mất vài tháng để tất cả trở về mức trước khủng hoảng, đặc biệt suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ càng gây sức ép lên nỗ lực vực dậy nền kinh tế của Trung Quốc đầu tư chứng khoán.
LPR là tỷ lệ tham chiếu cho vay được thiết lập hàng tháng bởi 18 ngân hàng. Tháng 8/2019, PBOC đã thay đổi cơ chế định giá LPR, gắn nó với lãi suất cho vay trung hạn (MLF).
Trước đó, hôm 15/4, PBOC cũng đã tuyên bố cắt giảm 20 điểm cơ bản trong lãi suất cho vay trung hạn một năm (MLF) đối với các tổ chức tài chính, từ 3,15% xuống còn 2,95%, mức thấp nhất kể từ khi công cụ thanh khoản này được giới thiệu vào tháng 9/2014. Việc hạ lãi suất cho vay trung hạn một năm của PBOC đã giúp khơi thông 100 tỷ nhân dân tệ (14,19 tỷ USD) vào thị trường tài chính.

Trung Quốc hạ lãi suất cơ bản, chứng khoán châu Á trái chiều


Thị trường chứng khoán châu Á – Thái Bình Dương trừ Nhật Bản giảm 0,5% trong phiên sáng 20/4, với các chỉ số lớn trong khu vực diễn biến trái chiều.

Nikkei 225 của Nhật Bản giảm 1% trong khi Kospi của Hàn Quốc tăng 0,2%. Tại Nhật Bản, chính phủ dự kiến nâng tổng giá trị gói kích thích kinh tế từ 108.200 tỷ yên lên 117.100 tỷ yên (1.086 tỷ USD), theo Reuters.
Tại Trung Quốc, Shanghai Composite và Shenzhen Composite lần lượt tăng 0,2% và 0,5%. Hang Seng của Hong Kong tăng 0,2%. Cổ phiếu tăng sau khi Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc quyết định hạ lãi suất cơ bản lần thứ 2 trong năm nay nhằm giảm chi phí đi vay cho doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.
Cụ thể, lãi suất cho vay kỳ hạn một năm giảm 0,2% xuống 3,85% và lãi suất cho vay 5 năm giảm 0,1% xuống 4,65%. Động thái hạ lãi suất được thực hiện sau khi Trung Quốc công bố GDP quý I giảm 6,8% so với cùng kỳ năm ngoái, ghi nhận quý giảm đầu tiên kể từ năm 1992, do tác động của dịch Covid-19.
ASX 200 của Australia giảm mạnh nhất khu vực, mất 1,3%. NZX 50 của New Zealand tăng 0,4%. Tại Đông Nam Á, Straits Times của Singapore giảm 0,01% trong khi Jakarta Composite của Indonesia tăng 0,2%, KLCI của Malaysia tăng 1,3%.
Tại Mỹ, các hợp đồng tương lai của Dow Jones, S&P 500 và Nasdaq 100 đều giảm. Trong đó, Dow Jones futures giảm 91 điểm, ám chỉ chỉ số này có thể mất khoảng 61 điểm khi mở phiên 20/4 tại Mỹ. Cổ phiếu được dự báo giảm dù Tổng thống Donald Trump ngày 19/4 cho biết đảng Dân chủ và Cộng hòa sắp đạt được thỏa thuận để tăng hỗ trợ đầu tư chứng khoán cho các doanh nghiệp nhỏ bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Thỏa thuận có thể sớm được ký kết trong ngày 20/4.
Nhìn chung, nhà đầu tư giữ tâm lý thận trọng để tiếp tục theo dõi diễn biến dịch Covid-19 cũng như kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp lớn. Theo dự đoán của Refinitiv, lợi nhuận quý I của các doanh nghiệp tại Mỹ giảm 14,5%, ghi nhận mức giảm tồi tệ nhất kể từ quý III/2009.

Trung Quốc có thể thất hứa với Mỹ vì Covid-19



Kinh tế suy yếu vì đại dịch có thể khiến Bắc Kinh không giữ được thoả thuận thương mại là mua 40-50 tỷ USD nông sản Mỹ.



Thu hoạch đậu tương tại Mỹ. Ảnh: AP.

Cam kết tăng mua nông sản là một phần trong thỏa thuận thương mại giai đoạn một mà Bắc Kinh và Washington ký đầu năm. Trong đó, việc hứa hẹn tăng nhập khẩu đậu tương Mỹ của Trung Quốc là nội dung trọng tâm thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, giờ Trung Quốc lại tăng tích trữ đậu tương Brazil chứ không phải Mỹ. Brazil vốn là đối thủ cạnh tranh chính của Mỹ trên thị trường đậu tương quốc tế. Do kinh tế đi xuống mùa dịch nên đậu tương nước này hiện có giá thấp hơn, nên được Trung Quốc chọn mua của các nhà đầ tư.
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, Trung Quốc đã mua kỷ lục, với 11,6 triệu tấn đậu tương Brazil trong tháng 3/2020. Trong khi đó, đặt hàng đậu tương Mỹ cho nhu cầu cả năm 2020 của Trung Quốc đến nay vẫn rất thấp, chỉ 12,6 triệu tấn.
Con số này thậm chí còn thấp hơn mức 12,9 triệu tấn được đặt hàng cùng thời điểm này năm ngoái, khi căng thẳng thương mại đang ở mức cao. Trong khi đó, hai năm trước, khi chưa cuộc chiến thương mại, Trung Quốc đã đặt mua gần 30 triệu tấn đậu tương Mỹ vào tháng 4/2018.
Dave Walton, một nông dân Mỹ vừa bước vào vụ mùa đậu tương mới ở Iowa lo rằng, khách hàng lớn nhất của ông sẽ không giữ lời hứa theo thỏa thuận giai đoạn một. "Nhóm thương nhân Trung Quốc từng nói sẽ thực hiện tốt thỏa thuận, nhưng nếu nhìn vào tình trạng mua hàng thì họ đang đặt mua ít hơn mục tiêu cần thiết lúc này", ông nói và cho rằng cần phải có biện pháp buộc họ tuân thủ.
Các chính trị gia, bao gồm cả Tổng thống Mỹ Donald Trump, đang cố gắng duy trì sự lạc quan. Nhưng các nhà phân tích cảm thấy Trung Quốc khó có thể đạt được mục tiêu đã hứa trong mua nông sản, với một nửa số đó là mặt hàng đậu tương.
Phát biểu hôm 14/4, ông Trump cho biết các giao dịch mua hàng của Trung Quốc đã có một chút ảnh hưởng bởi Covid-19, nhưng ông hy vọng Trung Quốc sẽ giữ vững thỏa thuận này. "Tôi biết Chủ tịch Tập Cận Bình. Tôi nghĩ ông ấy sẽ duy trì thỏa thuận. Còn nếu ông ấy không làm thế thì cũng ổn thôi vì chúng tôi có nhiều biện pháp tốt khác", ông nói. 
Cailin Birch, nhà kinh tế học ở The Economist Intelligence Unit (EIU) tại London, cho rằng tình hình thực hiện thỏa thuận còn lỏng lẻo. "Chúng tôi cho rằng Trung Quốc sẽ không thể đáp ứng các thỏa thuận mua bán nông sản đầy đủ như trong thỏa thuận thương mại giai đoạn một", ông nói.
EIU dự báo kinh tế cho Trung Quốc năm nay chỉ tăng 1%. "Chúng tôi không hy vọng nó đủ mạnh để tạo ra nhu cầu cần thiết, nhằm đáp ứng được các quy định trong thỏa thuận thương mại giai đoạn một", ông Birch nói. Vị chuyên gia dự đoán Mỹ sẽ tiếp tục gây áp lực khiến Trung Quốc phải mua nông sản của họ. Tuy nhiên, các mục tiêu chính xác có thể bị dỡ bỏ mà không có sự trả đũa nào từ Mỹ đầu tư chứng khoán.
Ngoài sự suy thoái do đại dịch, tình hình tái đàn heo của Trung Quốc sau khi dịch tả heo châu Phi tiêu diệt 60% số heo nước này, vẫn còn yếu. "Tất cả phụ thuộc vào khả năng thoát khỏi tình trạng nhanh ra sao. Nó liên quan chặt chẽ đến tình hình Covid, do nhu cầu thịt ở Trung Quốc gắn liền với việc nền kinh tế có tốt và mọi người sẽ đi ăn hay không. Nhưng nhu cầu cơ bản vẫn không tốt", ông nói.
Trung Quốc vẫn đang vật lộn để kiểm soát sự lây lan của dịch tả heo châu Phi sau gần 18 tháng tính từ lúc ca nhiễm đầu tiên ở nước này được ghi nhận. Bộ Nông nghiệp nước này đã báo cáo hai trường hợp mới vào chủ nhật (19/4) tại tỉnh Cam Túc và Thiểm Tây, khiến hàng chục con heo bị chết.
"Sự phục hồi của ngành công nghiệp thịt heo Trung Quốc đang thúc đẩy nhu cầu đối với đậu tương. Dù vậy, không chắc là việc tái đàn sẽ nhanh đến mức nào nên dự báo nhu cầu trong vài năm tới rất tương đối", Sanjeeban Sarkar, nhà phân tích tại EIU, cho biết.

Tuy nhiên, ông Sanjeeban Sarkar vẫn kỳ vọng về đợt phục hồi bền vững đến năm 2022. "Nếu các đợt bùng phát tiếp theo được quản lý tốt hơn, nhu cầu về đậu tương từ Trung Quốc sẽ tăng tốc, thúc đẩy nhu cầu toàn cầu", ông nói.