Thứ Hai, 9 tháng 3, 2020

FED hạ lãi suất, TTCK toàn cầu chuyển động ngược thông lệ


Quyết định hạ lãi suất 0,5%/năm, về mức 1 - 1,25%/năm của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có phần bất ngờ đối với thị trường, bởi trước đó giới đầu tư kỳ vọng phải tới kỳ họp ngày 17 - 18/3, điều này mới diễn ra. 


Fed lý giải mục đích của động thái này là nhằm ngăn chặn đà suy giảm của nền kinh tế Mỹ trước diễn biến phức tạp của dịch cúm Covid-19.
Hiện dịch bệnh này đã lan ra 85 quốc gia trên thế giới, riêng ở Mỹ có 128 người nhiễm, trong đó có một vài ca nhiễm chưa rõ nguồn gốc lây bệnh.
Mỹ đang là quốc gia có số ca nhiễm nhiều thứ 11 trên thế giới và chưa cho thấy dấu hiệu có khả năng kiểm soát được dịch.
Mặc dù giới tài chính đã kỳ vọng Fed sớm hành động sau phát biểu của Chủ tịch Fed vào ngày 28/2 rằng Fed sẽ hành động phù hợp, tuy nhiên, khi Fed thực sự hành động thì thị trường chứng khoán lại phản ứng trái chiều.
Chỉ số Dow Jones giảm 786 điểm, tức giảm 2,94%; chỉ số S&P 500 giảm 2,81% và chỉ số Nasdaq Composite giảm 3%. Ngược lại, các thị trường chứng khoán khác lên điểm khá mạnh.
Tại khu vực châu Á, chỉ số SHANGHAI tăng 0,64%, chỉ số SHANGHAI 50 tăng 0,96%; chỉ số NIKKEI 225 tăng 0,1%; chỉ số KOSPI tăng 2,24%. Ở khu vực châu Âu, các chỉ số lớn như FTSE 100 tăng 1,01%, FTSE All tăng 1%, DAX tăng 0,76%, CAC 40 tăng 1,25%, FTSE MIB tăng 0,45%...
Như vậy, có thể thấy, các thị trường tài chính ngoài Mỹ đều phản ứng khá tích cực với thông tin Fed hạ lãi suất, trong khi tại thị trường chứng khoán Mỹ hiện tượng tin ra bán ngắn hạn đã xuất hiện.
Nhìn lại giai đoạn cuối năm 2018 và đầu năm 2019, khi Fed hạ lãi suất tổng cộng 0,75% chia làm 3 đợt, các quốc gia khác cũng hành động tương tự. Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) tái khởi động chương trình mua trái phiếu chính phủ tại mức 20 tỷ EURO/tháng.
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) giảm 0,5% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm 0,05% đối với lãi suất giao dịch thỏa thuận đảo ngược ngắn hạn và lãi suất cho vay tiêu chuẩn. Các ngân hàng trung ương khác như Australia, Brazil, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nga… cũng cắt giảm lãi suất theo.
Lịch sử cho thấy, rất nhiều quốc gia đã thực hiện chính sách tiền tệ phụ thuộc vào diễn biến thị trường thế giới, mà cụ thể là Fed.
Điều này nhiều khả năng sẽ tiếp tục lặp lại ở thời điểm hiện tại, các quốc gia muốn nhanh chóng khôi phục lại sản xuất - kinh doanh hậu dịch bệnh buộc phải tung ra các gói kích thích để vực dậy nền kinh tế đang có dấu hiệu suy giảm cả cung và cầu.
Sau khi Trung Quốc, Mỹ tung ra các gói cứu trợ nền kinh tế, các quốc gia lớn còn lại được kỳ vọng sẽ sớm tung ra các gói kích cầu.
Tuy nhiên, mỗi khu vực sẽ có các chính sách kích cầu khác nhau.
Hiện tại, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) và ECB do đã áp dụng chính sách lãi suất thấp, lần lượt -0,1% và 0% nên khả năng sẽ tung ra các gói kích cầu khác, trong khi các quốc gia có lãi suất dương nhiều khả năng sẽ áp dụng.
Điều này lý giải cho việc vì sao các thị trường chứng khoán ngoài Mỹ ngay lập tức bật tăng mạnh sau khi Fed hạ lãi suất, giới đầu tư ở các quốc gia đang kỳ vọng chính phủ ở quốc gia mình sớm tung ra các gói kích cầu cũng như triển vọng tăng giá của các tài sản tài chính như chứng khoán.
Điều lạ trong lần hạ lãi suất này của Fed là giá các tài sản trú ẩn như vàng và trái phiếu có dấu hiệu hút dòng tiền. Vàng bật tăng mạnh trong phiên 3/3, các tài sản khác như lợi tức trái phiếu Mỹ tiếp tục suy giảm.
Thông thường, lợi tức trái phiếu sẽ ngược với dòng tiền, dòng tiền đầu tư tăng đẩy lợi tức trái phiếu giảm.
Trong 3 lần hạ lãi suất trong năm 2019, mỗi khi Fed thực hiện chính sách thì các kênh trú ẩn có dấu hiệu bị bán ra, giá vàng điều chỉnh và lợi tức trái phiếu hồi phục trở lại ở tất cả các kỳ hạn.
Việc Fed hạ lãi suất nhằm hỗ trợ nền kinh tế Mỹ chống lại đà suy giảm trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhưng dòng tiền của giới đầu tư lại tiếp tục không chảy vào chứng khoán, vào sản xuất - kinh doanh mà lại đi tìm nơi trú ẩn báo hiệu tâm lý nhà đầu tư bên Mỹ đang rất thận trọng.
Xét về lợi tức trái phiếu, nắm giữ trái phiếu 6 tháng có lợi tức 0,71%, trong khi nắm giữ 1 năm chỉ được lãi suất là 0,587%.
Như vậy, có thể thấy, ngoài ưu tiên cầm tài sản an toàn, giới đầu tư đang ưu tiên kỳ hạn ngắn của tài sản thay vì kỳ hạn dài. Điều này chỉ xảy ra khi giới đầu tư dự đoán kinh tế tiếp tục khó khăn, mặt bằng lãi suất tiếp tục giảm.
Mặc dù chỉ báo lợi tức trái phiếu đảo ngược không nói lên rằng kinh tế sẽ suy thoái, tuy nhiên việc rất nhiều nhà đầu tư cùng ưu tiên cất giữ tiền ở trái phiếu ngắn hạn như vậy cho thấy niềm tin vào thị trường đang suy yếu.
Hiện tại, vẫn có một lượng lớn nhà đầu tư đang hoài nghi về hiệu quả của các chính sách kích cầu và thực hiện chiến lược phòng thủ vào các tài sản an toàn.
Điều này nếu kéo dài sẽ gây hệ lụy toàn bộ nền kinh tế thế giới, tạo cho giới đầu tư sự trên thị trường cổ phiếu hiện nay bất an.

Tập Đoàn Coca Cola Chia Cổ Tức Ngày 13/03



Vào ngày 13/03, tập đoàn Coca Cola sẽ tiến hành chốt quyền nhận cổ tức của các cổ đông và nhà đầu tư. Mức chia cổ tức là 0.41 USD cho mỗi cổ phiếu, tăng so với mức 0.40 USD trong lần chia trước. Cổ phiếu của tập đoàn (NYSE:KO) đang gặp khó trong bối cảnh thị trường chứng khoán toàn cầu lao dốc. Tuy vậy cổ phiếu KO vẫn đang nằm trong giai đoạn tăng trưởng tốt. Thương vụ Coca Cola chia cổ tức là 1 thương vụ hấp dẫn.
Trước khi bị bán tháo, cổ phiếu này đã chạm mốc 60.13 USD trong phiên 21/02, tăng trưởng 8.6% trong hai tháng tính từ đầu năm.
Vào ngày 13/03, tập đoàn Coca Cola chia cổ tức cho cổ đông và nhà đầu tư

Cổ phiếu Coca Cola đang nhận được các đánh giá rất tích cực từ các ngân hàng và quỹ đầu tư trong đợt đánh giá gần đây nhất. Theo đó ngân hàng Morgan Stanley nhận định cổ phiếu này sẽ tăng trưởng rất tích cực; và nâng mức giá kỳ vọng từ 61.00 USD lên 65.00 USD. Ngân hàng Bank of America cũng đưa ra khuyến nghị mua vào và nâng mức giá kỳ vọng cho cổ phiếu KO từ 60.00 USD lên 65.00 USD.
Đây cũng là khuyến nghị tương tự đến từ ngân hàng Hoàng gia Canada với mức giá kỳ vọng 66.00 SD. Ngân hàng Deutsche Bank của Đức thì đặt mức giá mục tiêu 64.00 USD. Chỉ có ngân hàng JPMorgan là đưa ra đánh giá trung lập cho KO; với mức giá kỳ vọng ở mức 60.00 USD.

Thông Tin Về Thương Vụ Coca Cola Chia Cổ Tức

Tên công ty: The Coca-Cola Company
Mã niêm yết: KO
Quốc gia: Hoa Kỳ
Lĩnh vực kinh doanh: nước giải khát có gas, nước tăng lực, cà phê
Giá cổ phiếu niêm yết:  55.92 USD (02/03/2020)
Ngày chia cổ tức: 13/03/2020
Cổ tức: 0.41 USD/cổ phiếu
Mức sinh lời: 36.65% với tỷ lệ kí quỹ 1:50 

Cổ phiếu tăng trưởng mạnh nhờ kết quả kinh doanh tích cực

Vào hôm 30/01, lãnh đạo tập đoàn Coca-Cola đã công bố kết quả kinh doanh trong quý 4 2019. Những kết quả đạt được đã làm hài lòng các nhà đầu tư. Đồng thời nó cho thấy chiến lược tung ra sản phẩm đúng nhu cầu sức khỏe của khách hàng là một bước đi đúng đắn. Cụ thể thì:
  • Tổng doanh thu tăng 16% lên mức 9.07 tỷ USD. Vượt xa so với mức kì vọng là 8.89 tỷ USD.
  • Lợi nhuận thu về của tập đoàn là 2.07 tỷ USD. Tăng đến 250% so với con số 870 triệu USD cùng kỳ năm 2018..
  • Lợi nhuận trên từng cổ phiếu đạt 0.44 USD, bằng với mức kì vọng của phố Wall.
  • Tăng trưởng hữu cơ cho doanh thu đạt 7%, cao hơn mức kỳ vọng. Mức tăng trưởng này đạt được nhờ sự thành công của các sản phẩm mới như sản phẩm cà phê Coke Plus Coffee và nước tăng lực Coke Energy. Cũng như việc phân phối sản phẩm Coca không đường ra nhiều thị trường hơn.

Các ngành hàng đều tăng trưởng tốt

  • Sản phẩm Coca-Cola không đường (Zero Sugar) tiếp tục là một trong những mặt hàng được tiêu thu nhiều nhất. Ghi nhận tăng trưởng doanh số trên 10%.
  • Nhóm sản phẩm khác cũng ghi nhận tăng trưởng mạnh là các sản phẩm liên quan đến trà như Fuze.
  • Chiến lược giá của tập đoàn tiếp tục đem lại kết quả tích cực. Tập đoàn nhận định rằng việc thay đổi mẫu mã sản phẩm và tăng giá trên các mẫu mới đã giúp đẩy doanh số lên cao.
  • Số lượng nước uống bán ra ở khu vực châu Âu, Trung Đông và châu Phi tăng 4%; còn ở Châu Mỹ Latin con số này là 3%. Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mức tăng trưởng chỉ đạt 2% do doanh số sụt giảm ở Trung Quốc.
Nhìn chung trong buổi họp báo ngày hôm đó, CEO của tập đoàn James Quincey đã rất hài loàng với kết quả đạt được. Và tự tin rằng chiến lược sản phẩm của họ đang giúp thu hút lại các khách hàng trẻ tuổi khó tính. Ông nói rằng các khách hàng này sẵn sàng chi mạnh tay cho việc ăn uống; nhưng lại cân nhắc nhiều về tác động của nó lên sức khỏe. Do đó việc Coca-Cola được vào danh sách đồ uống ưa thích của nhóm khách hàng này là một thành công lớn.

Khó khăn từ dịch bệnh chỉ là tạm thời với tập đoàn Coca Cola

Trong buổi họp báo, CEO James Quincy đã nói rằng các nhà đầu tư nên cần trọng. Vì còn quá sớm để đưa ra nhận định về tác động ngắn hạn của vi rút corona lên doanh số của Coca-Cola ở Trung Quốc. Vốn tiêu thụ đến 10% số lượng sản phẩm của hãng. Tuy nhiên đến giờ là đầu tháng 3, khi dịch bệnh đang lan ra toàn cầu thì dường như tác động kinh tế của nó không chỉ dừng ở mức tạm thời trong ngắn hạn như các dự báo lạc quan trước đây nữa.
Nhu cầu tiêu dùng lẫn khả năng sản xuất sản phẩm ở Trung Quốc đang bị gián đoạn nghiêm trọng. Không chỉ cho riêng Coca Cola mà nhiều công ty bán hàng tiêu dùng khác.
Nhiều hãng sản xuất quốc tế từ thiết bị di động như Apple cho đến các nhà sản xuất xe hơi quốc tế; như Toyota, General Motors, Ford và Volkswagen đều đã tạm dừng dây chuyền sản xuất ở Trung Quốc. Các nhà sản xuất lớn của Trung Quốc cũng có động thái dừng sản xuất ở nhiều khu vực xảy ra dịch.

Các hoạt động đều tạm dừng ở Trung Quốc

Một số nhà cung cấp linh kiện đã đưa ra dự đoán số lượng ô tô sản xuất ở Trung Quốc trong quí 1-2020 sẽ giảm khoảng 15%. Đây chỉ là số liệu ước tính được đưa ra khi mà số người nhiễm bệnh chỉ là hơn 9.000 người. Con số lúc này đã tăng lên hơn 80,000 người. Và các dự báo cho thấy nền kinh tế Trung Quốc chỉ tăng trưởng ở quanh mức 3% trong 3 tháng đầu năm.
Công ty Coca-Cola cũng đã đóng cửa nhiều nhà máy ở Trung Quốc; trong khi Starbucks và McDonald’s đóng cửa rất nhiều cửa hàng. Starbucks đã đưa ra cảnh báo lợi nhuận của mình sẽ sụt giảm đáng kể trong năm 2020. Vì dịch cúm ở Trung Quốc, một trong những thị trường trọng điểm của chuỗi cà phê này.

Dịch cúm có tác động mạnh tới toàn cầu

Với tư cách là một mắt xích trọng yếu của chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời là nhà tiêu thụ chính của những mặt hàng xa xỉ như hàng hiệu Louis Vuitton, Gucci, Cartier;dịch cúm ở Trung Quốc không chỉ ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh trong nội bộ nước này.
Tờ Wall Street Journal công bố số liệu ước tính cho thấy người Trung Quốc chiếm khoảng 35% doanh thu bán hàng xa xỉ toàn cầu. Việc hạn chế di chuyển của người Trung Quốc ra nước ngoài sẽ tác động xấu đến các ngành kinh doanh hàng xa xỉ trên thế giới. Ngay tại các cửa hàng ở Paris, London và Milan; chứ không phải chỉ ở Trung Quốc.
Tuy vậy tin vui đó là đến cuối tháng 2 thì dịch bệnh đã được kiểm soát ở quốc gia này. Và các nhà đầu tư tin rằng đến mùa hè thì các mối nguy sẽ hoàn toàn biến mất. Các tập đoàn tiêu dùng như Coca Cola hay Pepsi đã chứng minh rằng họ luôn khỏe mạnh; và vượt qua các giai đoạn khó khăn của nền kinh tế. Nhờ các chiến lược kinh doanh sắc bén; cũng như nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của người tiêu dùng là không đổi.

Nhận định về thương vụ Coca Cola chia cổ tức


Mặc dù đang trải qua giai đoạn khó khăn, cổ phiếu Coca-Cola là một cổ phiếu tốt để nắm giữ trong thời điểm hiện tại. Vì họ có danh mục sản phẩm đa dạng; cũng như nền tảng tài chính vững chắc để đương đầu với khủng hoảng. Về lâu dài đây vẫn là cổ phiếu tốt để nắm giữ.  Thương vụ Coca Cola chia cổ tức là 1 thương vụ hấp dẫn.

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2020

Đằng Sau Nguyên Do Tăng Vốn Của Công Ty Tesla



Mặc dù Công ty Tesla vẫn chưa công bố kết quả lợi nhuận cả năm trên cơ sở nguyên tắc kế toán chung GAAP, năm 2019 đã khép lại với dòng tiền tự do dương, tăng lên khoảng 1,1 tỷ USD từ dòng tiền tự do âm vào năm 2018. Đó là kết quả từ việc cắt giảm chi phí hoạt động và chi phí vốn đầy phi thường của công ty, ngay cả trong khi doanh số tăng.
Mẫu Model Y của công ty Tesla

Ngoài ra, công ty Tesla dường như đã khiến các câu hỏi về thanh khoản không cần đưa ra thêm nữa. Đến cuối năm 2019, công ty có 6,5 tỷ USD tiền mặt và các khoản tương đương tiền so với 13,4 tỷ USD nợ. Khoản nợ ròng đó không lớn, khi xét rằng rất nhiều phần nợ trong số đó có thể chuyển đổi thành vốn chủ sở hữu và chịu lãi suất thấp hoặc không ảnh hưởng đến toàn bộ công ty. Và một công ty đang có dòng tiền dương và tăng trưởng như Tesla hoàn toàn có thể xử lý khoản nợ này.
Tuy nhiên, ngay cả với tất cả những mặt tích cực này, Tesla đã quyết định bán 2,65 triệu cổ phiếu ra công chúng vào tuần trước với mức chiết khấu 4,6% tương đương khoảng 767,29 USD mỗi cổ phiếu, và mang về cho công ty khoảng 2 tỷ USD. Vậy vì sao công ty lại bán thêm cổ phiếu, nhất là khi dòng tiền tăng và ban giám đốc gần đây đã tuyên bố rằng không cần phải làm như thế?

Công ty Tesla đã thay đổi giọng điệu

Trong hội nghị Q4 của công ty Tesla với các chuyên gia phân tích vào ngày 30 tháng 1, Musk và CFO Zachary Kirkhorn tuyên bố Tesla không cần phải huy động thêm bất kỳ khoản tiền nào để tài trợ cho các dự án tăng trưởng của Tesla. Các dự án hiện tại bao gồm trình làng mẫu xe Model Y và xây dựng nhà máy sản xuất Châu Âu của công ty tại Berlin, vẫn chưa được thực hiện.
Trong hội nghị, Musk nói:
“… nếu có bất kỳ cách hợp lý nào để tiêu tiền, chúng tôi sẽ chi ngay. Sẽ không có sự kìm hãm với các khoản chi tiêu. Bất cứ điều gì tôi thấy có vẻ mang lại giá trị tốt cho khoản tiền đầu tư, câu trả lời là đồng ý ngay lập tức. Nhưng chúng tôi đang tiêu tiền hiệu quả và chúng tôi không hạn chế những tiến triển của mình. Và mặc cho tất cả những điều đó, chúng tôi vẫn tạo ra được dòng tiền dương. Vì vậy, việc tăng vốn là không cần thiết bởi chúng tôi kỳ vọng vẫn có thể tạo thêm tiền mặt với ngưỡng tăng trưởng này.”
Vậy là theo Musk, có vẻ như Cổ phiếu Tesla không cần tiền mặt để hỗ trợ các khoản đầu tư tăng trưởng của mình.
Tất nhiên, Tesla cũng có thể sử dụng tiền tăng vốn cổ phần để trả nợ. Nhưng ngay cả với hướng đó, Musk đã nói trong hội nghị rằng “Pha loãng cổ phiếu công ty để trả nợ có vẻ không phải là một hành động khôn ngoan.”
Ấy thế mà, chỉ hai tuần sau công ty Tesla lại có hành động đó.

Điều gì đã thay đổi đối với công ty Tesla?

Tesla có thể đã thay đổi giọng điệu của mình vì một vài lý do. Đầu tiên có thể họ đã thiếu thành thật với các câu hỏi liên quan đến tăng vốn. Rõ ràng, nếu thị trường dự đoán bạn sẽ pha loãng số cổ phiếu hiện tại, các nhà đầu tư sẽ tính tỷ lệ pha loãng vào giá cổ phiếu và đánh tụt giá cổ phiếu xuống, từ đó khiến hoạt động tăng vốn sẽ pha loãng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của các cổ đông nhiều hơn.
Lý do thuyết phục hơn là giá cổ phiếu của Tesla đã tăng vọt trong hai tuần qua, thậm chí từ mức cao đuọc thiết lập trước hội nghị công bố thu nhập. Trước khi phát hành thu nhập ngày 30 tháng 1, cổ phiếu Tesla đã giao dịch khoảng 580 USD/cổ phiếu, tăng hơn 150% so với sáu tháng trước đó. Tuy nhiên, kể từ ngày công bố thu nhập, cổ phiếu đã tăng thêm 37% lên 800 USD/cổ phiếu, và khiến mức vốn hóa thị trường của Tesla tăng lên gần 150 tỷ USD.

Lãnh đạo công ty đang có suy nghĩ gì?

Đợt tăng vọt cuối cùng trong giá cổ phiếu có thể đã khiến ban lãnh đạo thay đổi suy nghĩ về việc pha loãng cổ phiếu công ty. Rốt cuộc, việc tăng vốn thêm 2 tỷ USD tại mức giá cao này chỉ pha loãng tỷ lệ sở hữu của các cổ đông của công ty Tesla khoảng 1,5%. Đó là sự pha loãng tối thiểu – đặc biệt là khi công ty vẫn lỗ trên cơ sở GAAP – biến đây trở thành cơ hội khó có thể bỏ qua.
Cuối cùng, cũng có thể ban lãnh đạo thấy tiềm năng tăng cường sản xuất của mẫu Model Y, pin, xe tải và xe bán tải ở California, Trung Quốc và Châu Âu có tốc độ nhanh hơn trước đây. Ngành ô tô vẫn là ngành thâm dụng vốn rất mạnh, nhưng Tesla đang ở vị thế dẫn đầu trong ngành xe điện, vì vậy ban lãnh đạo có thể nhìn thấy cơ hội tăng cường hoạt động chi tiêu để đi trước các đối thủ cạnh tranh sắp tới của mình.

Hãy thận trọng ở các cấp độ này

Dù nguyên nhân tăng vốn là gì đi chăng nữa, đó có thể là lá cờ cảnh báo lớn với những người mua tiềm năng của cổ phiếu Tesla. Trong quá khứ, khi vốn chủ sở hữu tăng lên, như mức tăng 650 triệu USD năm 2019 và tăng 2,3 tỷ USD trong năm 2016, đó là lúc Tesla cần tiền mặt để tăng cường hoạt động sản xuất và cần phải đốt tiền để đạt được mức sản xuất hiệu quả như hiện nay.
Tuy nhiên, hiện giờ Công ty Tesla có vẻ không cần tiền nhờ cơ cấu chi phí và bảng cân đối kế toán được cải thiện của công ty. Tuy nhiên, ban lãnh đạo nghĩ rằng dù sao việc bán thêm cổ phần cũng là một ý tưởng tốt.
Điều đó sẽ khiến các nhà đầu tư quan tâm trở nên vô cùng cảnh giác trước khi đổ tiền mua cổ phiếu ở các mức giá này. Ngay cả khi những ai bất đắc dĩ phải bán cổ phiếu cũng nghĩ rằng phát hành cổ phiếu là một ý hay, thì đó có thể là một dấu hiệu không nên đi qua phía giao dịch còn lại.
Theo fool

Chứng Khoán Mỹ Biến Động; Chỉ Số Dow Jones Giảm 0,56



Thị trường chứng khoán phiên Mỹ đóng cửa biện động vào ngày thứ Ba. Các lĩnh vực Dịch vụ tiện ích, Dịch vụ tiêu dùng và Nguyên liệu cơ bản dẫn đầu mức tăng, các ngành Dầu & Ga, Tài chính và Công nghiệp dẫn đầu mức giảm.

Đóng cửa thị trường tại NYSE, chỉ số Dow Jones giảm 0,56%, trong khi S&P500 giảm 0,29% và NASDAQ tăng 0,02%.
Những cổ phiếu tăng mạnh nhất trong chỉ số Dow Jones gồm Walmart Inc, tăng 1,48%, tương đương 1,74 điểm, đóng cửa ở mức 119,63. Trong khi đó, United Group Incorporated tăng 1,12%, tương đương 3,36 điểm, lên mức 302,14 và Microsoft Corp tăng 1,01%, tương đương 1,88 điểm, lên mức 187,23.
Những cổ phiếu giảm mạnh nhất gồm Apple Inc giảm 1,83%, tương đương 5,95 điểm, giao dịch ở mức 319,0. Dow Inc, giảm 1,83%, tương đương 0,89 điểm, đóng cửa ở mức 47,74. Intel Corp giảm 1,68%, tương đương 1,13 điểm, còn 66,14 điểm.
Những cố phiếu tăng mạnh nhất trong chỉ số S&P500 gồm Franklin Resources Inc, tăng 6,94% lên 26,05, Advance Auto Parts Inc tăng 6,15% lên 141,81 và Kroger Company tăng 5,24% lên 29,71.
Những cổ phiếu giảm mạnh nhất gồm Vulcan Materials Company giảm 6,67% còn 137,17 vào cuối phiên giao dịch, ConAgra Foods Inc giảm 6,15% còn 30,68 và Baker Hughes A Ge Company LLC giảm 4,87% còn 20,91 khi thị trường đóng cửa.
Những cổ phiếu tăng mạnh nhất trên NASDAQ gồm Bellerophon Therapeutics Inc, tăng 168,37% lên 9,2050, Wanda Sports Group Co Ltd tăng 45,48% lên 4,35 và Vical Inc tăng 42,24% lên 1,650.
Những cổ phiếu giảm mạnh nhất gồm TKK Symphony Acquisition Corp, giảm 31% còn 6,90. Summer Infant Inc giảm 23%, còn 0,77 và Gemphire Therapeutics Inc giảm 20,66% còn 18,86.
Trên sàn giao dịch chứng khoán New York, 1.622 cổ phiếu giảm giá và 1.167 cổ phiếu tăng giá, 97 cổ phiếu không thay đổi. Trên sàn NASDAQ, 1.436 cổ phiếu giảm giá và 1.198 cổ phiếu tăng giá, trong khi 90 cổ phiếu không thay đổi.
Chỉ số biến động CBOE, đo lường sự biến động của các hợp đồng quyền chọn S&P500, tăng 8,41% lên 14,83.
Giá vàng tương lai, giao tháng 4, tăng 1,14%, tương đương 18,05USD, lên 1.604,45USD/ounce. Đối với các hàng hóa khác, giá dầu thô giao tháng 4 tăng 0,08%, tương đương 0,04USD, lên mức 52,36USD/thùng. Dầu Brent giao tháng 4 tăng 0,02%, tương đương 0,01USD, lên 57,68USD/thùng.
Tỷ giá EUR/USD tăng 0,02% lên 1,0794, trong khi tỷ giá USD/JPY tăng 0,01% lên 109,88.
Chỉ số USD index tăng 0,35% lên 99,352.

Sau Một Thập Kỷ, Các Nhà Đầu Tư Cuối Cùng Đã Trở Lại Điểm Hòa Vốn



Gần đây, tác giả bài viết này đã bàn về việc so sánh các lần thị trường điều chỉnh, trong đó vai trò của tác động tài chính được cho là chiếm 10-60% mỗi đợt. Nhưng điều gì xảy ra sau đó?

Trong quá trình tăng trưởng mạnh mẽ và thị trường con bò tót kéo dài như hiện nay, các nhà đầu tư trở nên quá tự mãn trước những rủi ro đầu tư tiềm ẩn. Sự tự mãn này được thể hiện qua sự tái xuất của các danh mục đầu tư “couch potato” (lười vận động), “mua-và-năm-giữ” và “chỉ số thụ động”. Những ý tưởng đầu tư này đem lại trái ngọt khi thị trường không ngừng đi lên. Nhưng rồi khi tình thế đảo ngược – một điều tất yếu sẽ xảy đến, chúng sẽ đi ngang rất nhanh.
Mặc dù hiện nay, thị trường tin rằng giảm sâu như vậy là điều không có khả năng xảy ra do sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương, nhưng thị trường đã hai lần bốc hơi 50% giá trị như vậy kể từ đầu thế kỷ này. Nguyên nhân thì có muôn hình vạn trạng, nhưng kết quả thì luôn có chung dáng hình. Lần sụt giảm nghiêm trọng tới đây của thị trường sẽ đến từ các khoản nợ khổng lồ của doanh nghiệp, lương hưu không được chính phủ tài trợ và sự bốc hơi của các kế hoạch mua lại cổ phiếu – vốn chiếm gần 100% lượng mua ròng kể từ năm 2018.
Suy thoái thị trường là một hằng số đối với thị trường tài chính. Cho dù suy thoái là nhỏ hay lớn, tác động của nó đến các nhà đầu tư không chỉ thể hiện ở sự giảm giá. Đây là một trong những hậu quả quan trọng nhất của những lần thị trường điều chỉnh bởi nó liên quan đến các mục tiêu đầu tư dài hạn, tuy nhiên nó thường bị bỏ qua.
Có một loạt bài báo ca ngợi sự lên hương của S&P 500 trong giai đoạn thị trường con bò tót so với mức đáy năm 2009, và nhận định rằng nếu các nhà đầu tư chỉ cần giữ các danh mục đầu tư trong thời kỳ suy thoái năm 2008, hay tốt hơn là mua vào với mức đáy hồi tháng 3/2009, họ có lẽ sẽ trúng đậm.
Thật không may, phần lớn các nhà đầu tư nháo nhào bán tháo khi cuộc khủng hoảng tài chính chuẩn bị kết thúc và mãi cho tới nhiều năm sau đó mới dám đầu tư lại. Không có gì lạ khi thấy những cá nhân hoàn toàn rời khỏi thị trường, ngay cả sau khi thị trường đã tăng trở lại cả thập kỷ.
Đây chính là đòn tâm lý nặng nề mà thị trường con gấu tàn khốc để lại đối với các nhà đầu tư.
Các thị trường con gấu khiến cho các nhà đầu tư mắc phải những sai lầm nghiêm trọng:
  1. Họ đã trả mức giá giá cao cho các công ty mà họ đang đầu tư vào ở thị trường con bò tót. Họ phải trả giá khi lợi nhuận mà họ thu được trong tương lai thấp hơn vì khi đó việc “mua giá cao” chắc chắn sẽ biến thành “bán giá thấp”.
  2. Các nhà đầu tư hoảng loạn khi giá trị thị trường sụt giảm. Khi thị trường lên như diều gặp gió, dễ quên rằng số tiền chúng ta đầu tư là “tiền tiết kiệm” mà gia đình chúng ta phải dựa vào trong tương lai. Nhiều nhà đầu tư tự nhận mình người theo đuổi chiến lược “mua và nắm giữ” đã phải thay đổi suy nghĩ sau khi nếm trải những khoản thua lỗ lớn. Các nhà đầu tư sẵn sàng “thoát khỏi với bất cứ giá nào” thường bỏ qua biến động. Biến động không phải lúc nào cũng xấu, nhưng biến động tăng lên cùng với sự sụt giảm lớn về giá trị, cuối cùng sẽ khiến các nhà đầu tư “sợ hãi và hoảng loạn”.
  3. Bỏ qua phân tích thị trường. Khi thị trường cứ đi lên không ngừng, các nhà đầu tư bắt đầu “hợp lý hóa” các lý do mà họ trả quá cao cho giá trị trên thị trường. Họ tìm kiếm những thiên kiến để khẳng định quan điểm của mình, họ có xu hướng bỏ qua bất kỳ phân tích thị trường nào làm lung lay niềm hy vọng giá lên của họ. Cụm từ “lần này sẽ khác” là một dấu hiệu đặc trưng cho tâm lý này.
“Lý thuyết đầu tư mua và nắm giữ phủ nhận rằng cổ phiếu đắt hay rẻ, nó luôn khuyến khích các nhà đầu tư mua cổ phiếu, bất kể đặc điểm giá trị của thị trường chứng khoán có ra sao.” – Ken Solow
Rốt cục, vấn đề chính với chiến lược mua và nắm giữ đầu tư là ở BẠN!

Vấn đề lương hưu

Khi thị trường con bò tót vẫn đang sung mãn, các nhà đầu tư cá nhân làm hai việc khiến họ gặp áp lực tài chính.
  1. Bắt đầu đối xử với thị trường như một sòng bạc với hy vọng “phất lên nhanh chóng”, và
  2. Giảm bớt các khoản đóng góp của họ với kỳ vọng rằng lợi nhuận cao sẽ giúp lấp đầy khoảng trống.
Thật không may, các quỹ hưu trí trên khắp nước Mỹ hiện nay cũng gặp phải vấn đề này. Các nhà quản lý lương hưu đã đưa ra những giả định hoàn trả không thực tế trong 30 năm qua – và điều này đang biến thành rắc rối. “Lương hưu được các chuyên gia tính toán dựa trên những giả định liên quan đến nhân khẩu học ở hiện tại và tương lai, tuổi thọ, lợi tức đầu tư, mức đóng góp hoặc thuế suất, và các khoản thanh toán cho người thụ hưởng, cùng với các biến số khác. Sau hai giai đoạn thị trường con gấu nghiêm trọng và lợi nhuận hàng năm dưới chuẩn kể từ đầu thế kỷ, vấn đề lớn nhất nằm ở tỷ lệ hoàn vốn đầu tư dự kiến. Dựa trên các giả định sai lầm là nguyên nhân cốt lõi gây ra tình trạng không thể đáp ứng các nghĩa vụ trong tương lai. Khi ước tính lợi nhuận quá cao, giá trị lương hưu trong tương lai bị thổi phồng một cách thái quá, hệ quả là số tiền đóng góp cần thiết của các cá nhân và chính phủ vào hệ thống lương hưu giảm xuống. Lương hưu VẪN gắn với giả định hoàn vốn đầu tư hàng năm trong khoảng 7-8% ngay cả sau nhiều năm hoạt động kém hiệu quả.
Tuy nhiên, tại sao các quỹ hưu trí vẫn tiếp tục có giả định lợi tức đầu tư cao mặc dù nhiều năm hoạt động kém hiệu quả? Để giảm yêu cầu đóng góp (tiết kiệm) của các thành viên của họ – đây chỉ là một lý do. Vấn đề này tương tự vấn đề mà một người Mỹ trung lưu gặp phải khi dự kiến thu về lợi nhuận trung bình hàng năm 6-8% khi thực hiện chiến lược đầu tư của họ. Tại sao bạn nên tiết kiệm tiền nếu thị trường có thể làm việc cho bạn, phải không? Đây là một chủ đề phổ biến trong nhiều lời khuyên trên các phương tiện truyền thông chính thống.
“Suze Orman giải thích rằng nếu một người 25 tuổi gửi 100 USD vào một quỹ Roth IR mỗi tháng, người đó có thể có 1 triệu USD khi nghỉ hưu.”
Vấn đề với phát biểu này của bà Orman là ở chỗ để có được 1 triệu USD khi nghỉ hưu, người này phải đạt lợi nhuận hàng năm 11,25% (điều chỉnh theo lạm phát) mỗi năm trong 40 năm tiếp theo. Điều đó không thực tế cho lắm. Tiết kiệm dưới mức là một trong những vấn đề cơ bản khiến các nhà đầu tư không đạt được các mục tiêu tài chính của mình khi nghỉ hưu. Một vấn đề khác, như đã lưu ý ở trên, là phần quan trọng nhất trong phân tích bị những người ủng hộ trường phái “mua và nắm giữ” bỏ qua.

Quay trở lại điểm hòa vốn, thậm chí còn chưa được đến điểm hòa vốn

Dưới đây là một lời khuyên phổ biến.
“Nếu bạn đầu tư 100.000 USD vào thị trường khi nó đạt đỉnh vào năm 2000 hoặc năm 2007, danh mục đầu tư của bạn sẽ quay trở lại điểm hòa vốn trong năm 2013. Kể từ đó, danh mục đầu tư của bạn sẽ tăng lên hơn 200.000 USD.”
Dưới đây là biểu đồ tương đối chứng minh tuyên bố trên là chính xác. (Tổng lợi nhuận thực, được điều chỉnh theo lạm phát của khoản đầu tư 100.000 USD.)

Không ai nói nhiều về các nhà đầu tư đã có mặt trên thị trường kể từ đầu thế kỷ, nhưng đó là một trong những vấn đề khiến cho nhiều người Mỹ không được chính phủ tài trợ tiền hưu trí. Trong khi Phố Wall tuyên bố thị trường mang lại lợi nhuận hàng năm từ 6% trở lên, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận hàng năm kể từ năm 2000, trên cơ sở tổng lợi nhuận được điều chỉnh theo lạm phát, chỉ ở mức 4%.
Tuy nhiên, do hầu hết các phân tích được đưa ra để hỗ trợ cho quan điểm “mua và nắm giữ” bắt đầu phân tích từ thời điểm thị trường đạt đỉnh trong năm 2007, lợi nhuận trung bình thực ra chỉ đtạ 6,64%.
Đây là vấn đề.
Trong khi danh mục đầu tư của bạn đã trở lại điểm hòa vốn, trên cơ sở tổng lợi nhuận, 6 hoặc 13 năm sau khi bạn đầu tư lần đầu, tùy thuộc vào ngày bắt đầu của bạn, bạn KHÔNG trở lại điểm hòa vốn.
Bạn còn nhớ kế hoạch đầu tư của mình chứ? Vâng, kế hoạch đó được các phương tiện truyền thông chính thống “tâng bốc” với mức lợi nhuận giả định hàng năm là 6%?
Biểu đồ dưới đây cho thấy giá trị của khoản đầu tư 100.000 USD với lợi nhuận 6% hàng năm từ năm 2000 hoặc 2007.

Có vấn đề gì đó với biểu đồ này.
Một nhà đầu tư đã tăng gấp ba số tiền của họ từ năm 2000 và tăng gấp đôi từ năm 2007.
Thật không may, bạn không may mắn như thế.
Hãy thử chồng hai biểu đồ trên xem sao.
Nếu kế hoạch tài chính của bạn dựa trên lãi suất tiết kiệm giảm xuống và và tỷ lệ lợi nhuận cao, bạn sẽ không đạt được mục tiêu hưu trí nếu bạn bắt đầu vào năm 2000. May mắn thay, đối với các nhà đầu tư bắt đầu vào năm 2007, xin chúc mừng, giờ bạn đã quay trở lại điểm hòa vốn.

Thật không may, có rất ít nhà đầu tư thực sự nhìn thấy lợi nhuận thị trường trong 12 năm qua. Như đã lưu ý, phần lớn các nhà đầu tư bỏ toàn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán vào năm 2007 đã rời khỏi thị trường vào cuối năm 2008. Sau khi bị bầm dập như vậy, phải mất nhiều năm họ mới dám quay trở lại thị trường. Lợi nhuận của họ rất khác so với những gì truyền thông chính thống tuyên bố.
Mặc dù chiến lược đầu tư “mua và nắm giữ” đem lại siêu lợi nhuận khi thị trường đi lên, nhưng nó có thể khiến các nhà đầu tư trầy da tróc vẩy khi thị trường lao dốc. Khi số vốn của họ bị rút cạn, họ có xu hướng đưa ra những sai lầm đầu tư nghiêm trọng khiến cho khả năng họ được các mục tiêu tài chính dài hạn bị ảnh hưởng đáng kể.
Bạn có thể nghĩ rằng bạn có đủ can đảm để lèo lái và chống đỡ, nhưng có lẽ bạn chẳng thể làm gì.
Nhưng ngay cả khi bạn có thể làm được gì đó, quay trở lại điểm xuất phát không phải là một chiến lược đầu tư để đạt được mục tiêu hưu trí của bạn.
Đối với nhiều nhà đầu tư đã đạt được mục tiêu tài chính của mình, có lẽ họ nên nhìn lại những gì đã xảy ra trong năm 2000 và 2007. Thị trường con bò tót hiện nay đã kéo dài quá lâu, mức định giá tăng cao và người ta ngày càng tin rằng “lần này sẽ khác”.
Phân tích rủi ro mà bạn đang phải đối mặt và những hậu quả mà bạn có thể phải gánh chịu trong tương lai là một việc nên làm.

S&P 500 Và Nasdaq Composite Lập Kỷ Lục Mới, Dow Jones Cộng Hơn 100 Điểm



S&P 500 và Nasdaq Composite leo lên mức cao kỷ lục mới vào ngày thứ Tư (19/02), khi nhóm cổ phiếu công nghệ có thành quả vượt trội, giữa lúc nhà đầu tư tiếp tục cân nhắc ảnh hưởng của COVID-19 đến nền kinh tế toàn cầu, CNBC đưa tin.

Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Tư, chỉ số S&P 500 tiến 0.5% lên 3,386.15, vượt qua mức cao mọi thời đại trước đó là 3,385.09 điểm, còn chỉ số Nasdaq Composite tăng gần 0.9% lên 9,817.18 điểm. Trong khi đó, chỉ số Dow Jones cộng 115.84 điểm (tương đương 0.4%) lên 29,348.03 điểm.
Cổ phiếu Apple đã góp phần vào đà tăng trên, tiến 1.5%. Chứng chỉ quỹ Technology Select Sector SPDR ETF – theo dõi lĩnh vực công nghệ thuộc S&P 500 – tăng hơn 1% lên mức cao mọi thời đại. Cổ phiếu Tesla vọt hơn 6.5% sau khi một chuyên gia phân tích tại Piper Sandler nâng giá mục tiêu của công ty này từ 729 USD/co lên 928 USD/cp.
Vào ngày thứ Tư, Ủy ban Y tế Trung Quốc báo cáo có thêm 1,749 ca nhiễm mới virus corona trên toàn quốc, đánh dấu số ca nhiễm mới mỗi ngày thấp nhất kể từ cuối tháng 01/2020.
“Các dấu hiệu đáng khích lệ tiếp tục xuất hiện trong tuần qua cho thấy sự bùng phát virus corona của Trung Quốc… được kiểm soát”, Yan Wang, Chiến lược gia Trung Quốc và các thị trường mới nổi tại Alpine Macro, nhận định. “Các yêu cầu kiểm dịch nghiêm ngặt của Trung Quốc có thể sẽ sớm được nới lỏng, và trọng tâm của Chính phủ sẽ nhanh chóng chuyển từ việc kiểm soát virus sang hỗ trợ nền kinh tế”.
Bloomberg News đưa tin Trung Quốc đang xem xét sử dụng các biện pháp sáp nhập và đổ tiền vào để bảo lãnh ngành công nghiệp hàng không, vốn chịu tổn hại nặng nề bởi COVID-19.
Tuy nhiên, tổng số ca nhiễm đã vượt mốc 74,000 ca, trong khi số trường hợp tử vong vì virus là hơn 2,000 người. Các trường hợp nhiễm COVID-19 cũng được báo cáo ở hơn 20 quốc gia trên thế giới. Tháng trước, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu.
Về mặt dữ liệu kinh tế, chỉ số giá sản xuất (PPI) của Bộ Lao động Mỹ đã tiến 0.5% trong tháng 01/2020, đánh dấu tháng tăng mạnh nhất kể từ tháng 10/2018. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng công bố biên bản cuộc họp tháng 01/2020, theo đó cho thấy các quan chức Fed nghĩ lãi suất vẫn duy trì ở mức hiện tại ở thời điểm này. Biên bản họp cũng phản ánh COVID-19 đang được Fed theo dõi